Ninh Thuận là tỉnh ở duyên hải Nam Trung bộ được bao bọc bởi ba mặt núi và một mặt biển, có khí hậu khô nóng, mùa khô kéo dài 8 tháng, lượng nước bốc hơi lớn gấp 6 lần lượng mưa, nên được coi là vùng khô hạn nhất cả nước.

    Tình hình hạn hán khốc liệt trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận thời gian vừa qua càng làm cho nhu cầu nước thêm căng thẳng, diện tích đất SXNN bị hạn hán tăng lên hàng năm.

    Năm 2015, địa phương đã có 10.299/26.408 ha phải dừng SX do thiếu nước tưới. Vì vậy, Ninh Thuận phải tái cấu trúc ngành thủy lợi để tìm giải pháp chống hạn lâu dài nhằm ổn định tình hình kinh tế - xã hội và đời sống người dân.

    Cung không đủ cầu

    Theo Sở NN-PTNT Ninh Thuận, toàn tỉnh có 78.000 ha đất canh tác nông nghiệp, trong đó diện tích cây công nghiệp và rau màu, cây ăn quả có giá trị kinh tế cao chiếm tỷ trọng lớn. Để phục vụ SXNN, trong những năm qua, Chính phủ đã đầu tư xây dựng cho tỉnh 20 hồ chứa với tổng dung tích thiết kế hơn 192 triệu m3 cùng với hệ thống thủy lợi Nha Trinh - Lâm Cấm và hệ thống Sông Pha, có nhiệm vụ cung cấp nước tưới cho khoảng 33.000 ha đất canh tác lúa và màu của người dân.

Tuy nhiên hiện nay các hệ thống công trình thủy lợi trên mới chỉ đáp ứng cấp nước tưới đạt khoảng 75% năng lực so với thiết kế. Đồng thời cấp nước thô cho nhà máy nước sạch để phục vụ nước sinh hoạt cho hơn 570.000 dân trong tỉnh và cấp nước cho du lịch Bình Tiên, xi măng Luck, khai thác ti tan…

    Theo thống kê, lượng mưa bình quân hàng năm tại Phan Rang chỉ 741 mm; tại Tân Mỹ 1.185 mm và tại Cà Ná chỉ 711 mm. Vì vậy, nguồn cung cấp nước sinh hoạt cho TP Phan Rang - Tháp Chàm và nước tưới cho một phần lớn diện tích gieo trồng của tỉnh được chuyển từ thượng nguồn sông Đồng Nai về qua hệ thống thủy nông Nha Trinh - Lâm Cấm, sau khi được điều tiết bởi hồ Đơn Dương (thủy điện Đa Nhim - Lâm Đồng) chỉ chủ động nước tưới hơn 15.000 ha/vụ.

    Do cung không đủ cầu, nên nhiều hộ dân ở Ninh Thuận phải khai thác nước ngầm để phục vụ SXNN và chuyển đổi cây trồng hoặc bỏ hoang hóa, dẫn đến tình trạng mực nước ngầm ngày càng xuống thấp, gây khó khăn trong việc khai thác.

Đặc biệt, từ cuối năm 2014 đến năm 2015, tình hình hạn hán trên địa bàn tỉnh diễn ra khốc liệt. Tính đến tháng 6/2015, Ninh Thuận có đến 5.497 hộ với 23.130 nhân khẩu thiếu nước…

    Để ổn định cuộc sống người dân, tỉnh Ninh Thuận đã tiến hành cấp gạo cứu đói của Chính phủ. Những nơi thiếu nước sinh hoạt, người dân đã được nhà nước cấp kinh phí thuê xe vận chuyển nước từ nơi khác đến. Chính phủ cũng đã hỗ trợ cho tỉnh Ninh Thuận 172 tỷ đồng để chống hạn. Người dân ở một số khu vực cũng đã tự đào ao, khoan giếng và đầu tư hệ thống tưới tiết kiệm để cứu diện tích cây trồng còn lại trong vùng hạn. Tuy nhiên, tất cả chỉ là giải pháp tạm thời.

Các công trình thủy lợi hiện tại không đáp ứng nhu cầu dùng nước của tỉnh

    Giải pháp căn cơ

    Để chống hạn về lâu dài, tỉnh Ninh Thuận đang có kế hoạch tái cơ cấu ngành thủy lợi nằm trong tổng thể tái cơ cấu ngành nông nghiệp, nhằm khai thác một cách có hiệu quả, bền vững nguồn tài nguyên nước phục vụ các nhu cầu cung cấp nước SXNN, công nghiệp, du lịch dịch vụ, sinh hoạt và phòng chống lũ xâm nhập mặn và bảo vệ môi trường trong điều kiện biến đổi khí hậu nước biển dâng để phục vụ cho các mục tiêu kinh tế - xã hội, nâng cao thu nhập của người nông dân.

    Ông Trần Văn Tuấn, Chi cục trưởng Chi cục Thủy lợi Ninh Thuận cho biết, theo quy hoạch thủy lợi, giai đoạn hiện tại mỗi năm tổng nhu cầu dùng nước của toàn tỉnh trên 1 tỷ m3 và đến năm 2020 lên 1,3 tỷ m3. Tuy nhiên ở Ninh Thuận có 2 nguồn nước chính để phục vụ cho các nhu cầu dùng nước là lượng nước xả từ hồ Đơn Dương qua thủy điện Đa Nhim với lưu lượng bình quân khoảng 18 m3/s (tương đương 500 triệu m3/năm) và nguồn nước của khu vực sông Cái lưu lượng bình quân khoảng 30 m3/s (tương đương 946 triệu m3/năm). Thế nhưng lượng nước trên sông Cái lại tập trung các tháng mùa mưa từ tháng 9 - 11(chiếm 80% tổng lượng nước trong năm), đến mùa khô lại thiếu nước.

    Theo ông Tuấn, giải pháp thủy lợi đối với Ninh Thuận hiện nay là phải xây dựng các hồ chứa để điều tiết. Hiện tỉnh đã xây dựng 21 hồ chứa với tổng dung tích 193,4 triệu m3, vì vậy phải xây thêm 22 hồ chứa nữa với tổng dung tích 347 triệu m3 mới đáp ứng nhu cầu dùng nước đến năm 2020. Tuy nhiên trước mắt phải xây dựng hồ sông Cái và đập dâng Tân Mỹ để điều tiết khoảng 400 triệu m3 nước ở thượng nguồn sông Cái phục vụ các nhu cầu dùng nước.

    “Lợi ích của việc xây dựng đập đâng Tân Mỹ trên sông Cái và kênh tưới chính sẽ giúp Ninh Thuận điều phối được lượng nước trên sông Cái ở thượng nguồn với lưu lượng 3 - 5 m3/s để cung cấp nước SX và sinh hoạt cho các vùng khô hạn phía Bắc của tỉnh như huyện Ninh Sơn, Thuận Bắc, Ninh Hải trong các tháng mùa khô.

    Tuy nhiên với lưu lượng nước trên mới chỉ đáp ứng được một phần các nhu cầu dùng nước chưa thể mở rộng diện tích tưới theo quy hoạch, bởi đập Tân Mỹ chỉ sử dụng được dòng cơ bản trên sông mà không điều tiết được dòng nước trong các tháng mưa lũ để sử dụng trong tháng khô.

    Vì vậy, về lâu dài Ninh Thuận phải sớm xây dựng hồ chứa nước sông Cái với dung tích 219 triệu m3 sẽ cấp nước phục vụ các ngành kinh tế với lưu lượng 11 - 13 m3/s cùng với hệ thống thủy lợi hiện có thì mới đáp ứng được 80% tổng nhu cầu dùng nước”, ông Tuấn cho biết thêm.

    Ông Tuấn đề nghị Trung ương và Bộ NN-PTNT, đầu năm 2016 cho tỉnh triển khai thi công hồ chứa sông Cái để có thể sớm hoàn thành công trình đưa vào sử dụng 2020. Đồng thời xây dựng thêm 20 hồ chứa vừa và nhỏ đã được quy hoạch và lập dự án, đặc biệt hồ sông Than với dung tích 60 triệu m3, hồ Đa Mây 7,2 triệu m3, Tân Giang dung tích 16 triệu m3…

Tỉnh Ninh Thuận đề nghị Trung ương có cơ chế chính sách để hỗ trợ và định hướng cho tỉnh tái cơ cấu ngành nông nghiệp, chuyển đổi cơ cấu cây trồng hướng tới loại cây trồng có giá trị kinh tế cao sử dụng ít nước; đồng thời hỗ trợ đầu tư nhân rộng mô hình tưới tiết kiệm nhằm sử dụng nước tiết kiệm, giảm thiểu thiệt hại do hạn hán thường xuyên xảy ra.

    Bên cạnh việc xây hồ, giải pháp liên thông giữa các hồ chứa và hệ thống kênh mương cũng đang được nghiên cứu nhằm điều tiết nước giữa các lưu vực, các hồ chứa để cung cấp nước cho dân sinh và SX.

    Theo đó, một số kênh kết nối liên thông cần được ưu tiên như: Kênh liên thông chuyển nước từ hồ Tân Giang - Sông Biêu - Suối Lớn; Kênh từ lưu vực hồ Cho Mo - Suối Ngang hồ Phước Trung - hồ Thành Sơn; liên thông lưu vực hồ Tân Giang - lưu vực hồ CK7 - hồ Bầu Zôn và liên thông các hệ thống tưới.

    “Khi các hệ thống kênh nối mạng trên hoàn thành sẽ giúp Ninh Thuận điều tiết nước tới các vùng khô hạn nhanh chóng, kịp thời, đảm bảo nguồn nước nội tỉnh”, ông Tuấn khẳng định.

    Ngoài giải pháp trên, tỉnh Ninh Thuận cũng đã tính toán xây dựng công trình thủy lợi dụng tổng hợp tài nguyên nước ở đập hạ lưu Sông Dinh. Với đặc thù là sông chính, diện tích ở lưu vực này chiếm 70% tổng diện tích của tỉnh, hầu như lượng nước xả từ các hồ, lượng nước lưu vực khu giữa, lượng nước hồi quy các khu tưới đều đổ về hạ lưu Sông Dinh.

    Vì vậy, tỉnh đã nghiên cứu xây dựng đập hạ lưu sông để tạo thành hồ chứa nước ngọt có dung tích khoảng 4 triệu m3 để cấp nước SX và sinh hoạt cho dân cư dọc theo 2 bờ sông Dinh; đồng thời ngăn chặn tình trạng xâm nhập mặn, cải thiện khí hậu khu vực TP Phan Rang - Tháp Chàm.

    Cũng theo ông Tuấn, để quản lý các công trình thủy lợi trên địa bàn một cách hiệu quả và bền vững hiện tỉnh đã triển khai, thành lập tổ dùng nước cho 65 xã và dự kiến cuối năm nay sẽ thành lập xong. Đối với Cty Khai thác CTTL cũng được tăng cường năng lực để có thể quản lý vận hành và kinh doanh, lập, thực hiện và đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch hoạt động, đảm bảo việc tưới, tiêu chủ động, tăng cường ứng phó hạn hán cho tỉnh.

    Bên cạnh đó sẽ ứng dụng KHCN tiên tiến và nâng cao hiệu quả cho các loại cây trồng có giá trị kinh tế cao, đặc biệt là cây nho, cây táo và chăn nuôi dê, cừu.

KIM SƠ (NNVN)     

Trở về đầu trang
Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article
TIỆN ÍCH
PHẦN MỀM QUẢN LÝ
LIÊN KẾT WEBSITE