Chương trình Mục tiêu Quốc gia Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn là một Chương trình mang tính nhân văn sâu sắc thể hiện bởi sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, sự hưởng ứng tích cực của người dân, sự hỗ trợ của quốc tế.

Chương trình được triển khai với mục tiêu đề ra là đến năm 2020, 95% dân số nông thôn được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh; đảm bảo ít nhất 90% các công trình cấp nước tập trung hoạt động bền vững gắn với mô hình quản lý hiệu quả; giảm 5% thất thoát nước ở hệ thống cung cấp nước tập trung; 75% số hộ gia đình ở nông thôn có nhà tiêu hợp vệ sinh.

Để góp phần xây dựng tính bền vững của Chương trình, bên cạnh việc tiếp tục ưu tiên cao về vốn hỗ trợ từ ngân sách trung ương và địa phương, vốn tín dụng ưu đãi cho Chương trình hàng năm cũng như tranh thủ thu hút vận động nguồn hỗ trợ từ các tổ chức quốc tế, còn cần phải đẩy nhanh hoàn thiện thể chế, chính sách cũng như tăng cường năng lực thực hiện ở các cấp, sự cam kết của các cấp chính quyền, nhất là cấp cơ sở, đồng thời tăng cường hơn nữa việc tuyên truyền nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành và sự vào cuộc của cả cộng đồng. Do vậy, Ngân hàng thế giới đã và đang hỗ trợ thông qua Chương trình PforR nhằm tăng tiếp cận nước bền vững tại 08 tỉnh: Bắc Ninh, Hà Nam, Hà Nội, Quảng Ninh, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Thanh Hóa, và Hưng Yên. Thời gian thực hiện 5 năm từ 2013-2018.

Chương trình được triển khai thực hiện trên cơ sở dựa trên kết quả (kinh phí chỉ được giải ngân theo các kết quả được xác nhận đáp ứng các yêu cầu đối với từng kết quả do Kiểm toán Nhà nước xác nhận).

Chương trình PforR đặt ra mục tiêu hướng đến xây dựng, cải tạo điều kiện tiếp cận nước sạch và vệ sinh trực tiếp cho hơn 1,7 triệu người dân tại 240 xã thuộc 8 tỉnh đồng bằng sông Hồng và các tỉnh lân cận, cụ thể là : 340.000 điểm đấu nối cấp nước tới hộ gia đình thông qua các hệ thống cấp nước tập trung cho khoảng 240 xã; 1.440 công trình vệ sinh công cộng được xây mới hoặc cải tạo; 130.000 nhà tiêu hộ gia đình được xây mới hoặc cải tạo; Các cộng đồng hiểu biết và nhận thức tốt hơn về nước sạch và vệ sinh; Năng lực của chính quyền Trung ương và địa phương trên địa bàn tỉnh được cải thiện trong công tác quản lý, giám sát và điều hành lĩnh vực cấp nước và vệ sinh môi trường nông thôn.

Kết cấu  của Chương trình PforR:

- Hợp phần 1- Cải thiện điều kiện cấp nước: Đầu tư xây dựng các công trình cấp nước tập trung qui mô xã và liên xã nhằm cung cấp nước sạch cho khoảng 240 xã tại 8 tỉnh, chất lượng nước đạt QCVN 02/BYT. Đối với cấp nước nhỏ lẻ quy mô hộ gia đình, các hộ gia đình được tiếp cận tín dụng ưu đãi từ Ngân hàng Chính sách xã hội.

- Hợp phần 2 - Cải thiện điều kiện vệ sinh: Bao gồm việc xây dựng các nhà vệ sinh đạt qui chuẩn quốc gia tại trường học, trạm xá. Đối với vệ sinh hộ gia đình, Chương trình sẽ hỗ trợ đầu tư để xây dựng mẫu nhà vệ sinh hộ gia đình tại các gia đình chính sách, gia đình nghèo và cận nghèo (mức hỗ trợ theo qui định của CTMTQG); các hộ gia đình sẽ được tiếp cận nguồn vốn thông qua phương thức cho vay ưu đãi từ Ngân hàng Chính sách xã hội theo Quyết định số 62/2004/QĐ-TTg ngày 16/4/2004 của Thủ tướng Chính phủ về tín dụng thực hiện Chiến lược Quốc gia về cấp nước và vệ sinh nông thôn đến năm 2020 để cải tạo hoặc xây mới nhà vệ sinh hộ gia đình;

- Hợp phần 3 - Nâng cao năng lực, truyền thông, giám sát, đánh giá và quản lý Chương trình: Bao gồm đào tạo và xây dựng năng lực cho ngành cấp nước và vệ sinh ở trung ương cũng như tại 8 tỉnh, năng lực giám sát và đánh giá, quản lý chất lượng nước, lập kế hoạch và tăng tính bền vững của các công trình cấp nước. Các hoạt động thông tin, giáo dục, truyền thông (IEC) được thiết kế để thúc đẩy thay đổi hành vi vệ sinh, tăng nhu cầu về vệ sinh và tạo ra những thay đổi về kết quả vệ sinh trên phạm vi toàn xã, toàn tỉnh.

Tổng vốn của Chương trình:Tổng kinh phí: 230.500.000 USD, trong đó, Vốn vay WB 200.000.000 USD, Vốn đối ứng từ ngân sách 10.500.000 USD, Vốn đóng góp từ cộng đồng 20.000.000 USD. Ngoài ra các nguồn vốn khác cũng sẽ được huy động để phục vụ cho mục tiêu của Chương trình.

Các cơ quan chủ quản tham gia Chương trình:

- Ở Trung ương: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là cơ quan chủ quản của Chương trình;

- Ở địa phương: Ủy ban nhân 8 tỉnh là cơ quan chủ quản các hoạt động thành phần thuộc Chương trình trên địa bàn của tỉnh, chịu trách nhiệm hoàn thành các kết quả đầu ra của Chương trình trên địa bàn tỉnh.

Đánh giá kết quả sau 4 năm thực hiện

- Số đấu nối nước hoạt động (DLI I) đạt 332.810/340.000 đấu nối, tương đương 98% kế hoạch 5 năm.

- Số nhà tiêu xây mới (DLI II): đạt 124.924/130.000 nhà tiêu, tương đương 96% kế hoạch 5 năm.

- Số người hưởng lợi từ công trình cấp nước bền vững (DLI III): đạt 646.893/850.000 người, tương đương 76% kế hoạch 5 năm.

- Số nguời hưởng lợi từ xã vệ sinh toàn xã (DLI IV)  đạt 1.421.158/1.275.000 người, tương đương 111% kế hoạch 5 năm.

- Số xã đạt vệ sinh toàn xã bên vững (DLI V): đạt 115/150 xã, tương đương 77% kế hoạch 5 năm.

Dự kiến kết quả đến khi kết thúc Chương trình (% chỉ tiêu kế hoạch cam kết theo Hiệp định)

- DLI I: đạt 116% (395.597/340.000 đấu nối nước).

- DLI II: đạt 107% (138.702/130.000 nhà tiêu).

- DLI III: đạt khoảng 104% (886.644/850.000 người).

- DLI IV: đạt 120% (1.531.687/1.275.000 người).

- DLI V: đạt khoảng 94% (142/150 xã)./.

Trở về đầu trang
Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article
TIỆN ÍCH
PHẦN MỀM QUẢN LÝ
LIÊN KẾT WEBSITE